Viet Nam High IQ Society rất vui mừng chào đón thành viên mới: Trần Thế Hùng!

Chúng ta rất vui mừng được chào đón: anh Trần Thế Hùng đã trở thành thành viên mới của Viet Nam High IQ Society!
Anh Trần Thế Hùng (26 tuổi) hiện đang là nghiên cứu sinh trong lĩnh vực Toán - Tin tại trường Đại học Paris 7.


Anh Hùng hiện đang nắm giữ kỷ lục cho người có số câu trả lời đúng liên tiếp nhiều nhất với 12 câu trả lời chính xác liên tiếp!
Trong thư gửi cho chúng ta anh có chia sẻ rằng sở thích của anh là: âm nhạc, đọc sách, du lịchgiải toán.
Các bạn có thể viếng thăm không gian dành riêng của anh Hùng tại:

IQ test cho trẻ em từ 4 đến 9 tuổi - bản rút gọn

Bài Raven dành cho trẻ em, IQ quy đổi được tính toán dựa trên kết quả của 22 nghiên cứu đến từ 12 quốc gia (tất cả các số liệu đều được thu thập từ sau năm 2005), có ưu điểm là thời gian test nhanh (chỉ 15 phút), các câu hỏi trực quan nhiều màu săc hấp dẫn và đặc biệt là không yêu cầu trẻ phải biết đọc.
Chúng tôi muốn gửi lời cảm ơn đến: tiến sĩ Xavier Jouve, ông Milos Tatarevic và tiến sĩ Jonathan Wai đã giúp đỡ trong việc cung cấp các dữ liệu đáng quý trên.

Lưu ý:
1. Bài test là công bằng giữa các nền ngôn ngữ, văn hóa và không yêu cầu trẻ phải biết đọc hay đi học.
2. Bài test gồm 36 câu làm trong 15 phút. Khi bắt đầu vào câu thứ 1 thời gian sẽ tự động được tính.
3. Chắc rằng con bạn đang có tinh thần thoải mái và thể trạng khỏe khoắn.
4. Kết quả mang lại dù có tính chính xác cao đến đâu thì nó cũng không nên được coi là quá quan trọng.
5. Không nên tìm cách gợi ý, tỏ thái độ khi trẻ làm sai và chia sẻ kết quả với trẻ dù nó có là tốt hay xấu.
6. Việc tính toán đúng tuổitháng cũng như lựa chọn đúng giới tính của trẻ là rất quan trọng.
7. Chúc bé của bạn may mắn!

Bắt đầu test

Việt Nam xếp thứ 116 trong danh sách những "nước tốt nhất để sống"

Theo một phúc trình mới ra của Liên Hiệp Quốc, nước tốt nhất để sống trên thế giới là Na Uy, trong khi nơi tệ nhất là Niger.

Việt Nam đứng thứ 116 trong bảng xếp hạng chất lượng cuộc sống của các công dân tại 182 quốc gia[1].

Các tiêu chí trong chỉ số xếp hạng về Phát triển Con người (HDI[2]) của LHQ tập trung vào ba yếu tố chính là tuổi thọ trung bình, học vấn, và mức sống.

Tuy nhiên, bản Phúc trình về Phát triển Con người 2009 của LHQ lại dựa trên các dữ liệu thu thập được từ năm 2007, trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra.

 

 

 

So với khu vực

Việt Nam đứng sau hầu hết các nước trong khối Đông Nam Á, Asean, chỉ trên Lào (133), Campuchia (137) và Miến Điện (138).

Theo dữ liệu thu thập năm 2007, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 74.3, tỉ lệ biết đọc biết viết90.3%, và tỉ lệ GDP trên đầu người2600USD[3].

Trên Việt Nam năm bậc là Indonesia (111) rồi đến Philippines (105), Thái Lan (87), Malaysia (66) và các nước khác.

Trung Quốc xếp ở vị trí 92, được cho là có cải thiện rất nhiều do mức thu nhập cũng như tuổi thọ người dân gia tăng.

Các nước Đông Á vẫn xếp hạng cao, với Nhật ở vị trí thứ 10 và Hàn Quốc đứng thứ 26. Singapore đứng thứ 23, chỉ sau Anh Quốc hai bậc.

 

Cách biệt

Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc nói chỉ số này cho thấy sự cách biệt lớn giữa các nước giàu và các nước nghèo.

Na Uy thường xuyên đứng cao trong bảng xếp hạng của LHQ - vốn được thực hiện từ năm 1990 đến nay. Mức sống cao tại Na Uy phần lớn là nhờ việc tìm thấy dầu khí ngoài khơi nước này vào cuối thập niên 1960.

Trong khi đó, Niger là nước thường xuyên chịu hạn hán tại châu Phi, và nhiều khi phải chật vật để có thể nuôi sống các công dân của mình.

Các nước khác được xếp cao trong bảng xếp hạng là Úc (thứ hai) và Iceland (thứ ba).

Tuy nhiên, mức sống tại Iceland đã thay đổi nhiều kể từ khi dữ liệu được thu thập, vì đây là một trong những nước bị thiệt hại nặng nề nhất vì cuộc khủng hoảng tín dụng.

Trong các nước đội sổ, trên Niger một bậc là Afghanistan, và tiếp đó là Sierra Leone.

Tuổi thọ trung bình tại Niger là 50, tức là thấp hơn tuổi thọ trung bình tại Na Uy khoảng 30 năm.

Chỉ số này còn cho thấy một nửa dân số tại 24 quốc gia nghèo nhất được cho là mù chữ.

Trong khi thừa nhận chỉ số này không phải là một cách đo lường toàn diện về phát triển con người (như thiếu các tiêu chí về bất bình đẳng giới và thu nhập, tôn trọng nhân quyền, tự do chính trị..vv…), những gì HDI đưa ra là cái nhìn về những tiến bộ trong một số lĩnh vực nhất định, cũng như mối quan hệ phức tạp giữa thu nhập và phúc lợi của người dân.
 

10 nước đầu bảng 

1. Na Uy

2. Australia

3. Iceland

4. Canada

5. Ireland

6. Hà Lan

7. Thụy Điển

8. Pháp

9. Thụy Sỹ

10. Nhật Bản

                                                                                                                                                                                             Theo BBC 

 Chú thích:

[1] Danh sách đầy đủ 182 quốc gia tìm thấy ở ĐÂY.

[2] Có thể tham khỏa thêm về HDI tại ĐÂY.

[3] 2600 USD là GDP đầu người tính theo sức mua tương đương, GDP đầu người năm 2007 của Việt Nam tính theo số tuyệt đối là 833 USD.  

Viet Nam High IQ Society vui mừng chào đón thành viên mới: Đỗ Đức Thọ!

Chúng tôi rất vui mừng được chào đón: Đỗ Đức Thọ đã trở thành thành viên mới của Viet Nam High IQ Society!

Đỗ Đức Thọ (19 tuổi) đến với chúng ta từ thành phố Yên Bái - hiện đang ở tại quận Thanh Xuân - Hà Nội. 

 

 

Dưới đây là những thông tin ngắn gọn, xúc tích mà Thọ chia sẻ với chúng ta:

"Sở thích: đọc sách, kết bạn, nghe nhạc, IQ.
Câu nói thích nhất: Thực tiễn là thước đo kiểm nghiệm chân lý.

Ham học hỏi theo kiểu cực kỳ khó bảo." 

Chúng ta có thể tìm hiểu thêm về anh tại: ĐÂY

 

 

 

 

IQ tuyển dụng nhân sự - Bài trắc nghiệm tuyển dụng của Viettel

Trong thời gian qua chúng tôi nhận được hàng trăm yêu cầu và câu hỏi về trắc nghiệm IQ tuyển dụng vào các tập đoàn, công ty, cơ quan... tại Việt Nam, đặc biệt là những bài trắc nghiệm IQ tuyển dụng nhân sự cho các công ty Viễn thông, các ngân hàng và các công ty nước ngoài. 

 

 Để đáp ứng nhu cầu này, chúng tôi giới thiệu đến các bạn bài trắc nghiệm IQ tuyển dụng nhân sự vào Tổng công ty viễn thông quân đội Viettel.

Kết quả sẽ được hiện thị gồm 3 phần chính:

1 - Điểm số đúng trên tổng số câu của bạn.

2 - Khả năng đỗ của bạn.

3 - Nguồn, tài liệu mà các công ty ở Việt Nam hay sử dụng để dịch rồi sắp xếp lại thành 1 bài trắc nghiệm IQ hoàn chỉnh cho mỗi đợt tuyển dụng nhân sự (chứa 100% các câu hỏi mà bài test này sử dụng).



Bắt đầu Test          

 

 

Những thành phần chủ yếu của tâm lý

Hoạt động của não người là một trong những chức năng của tâm lý. Tâm lý bao gồm những thành phần chủ yếu như: tư duy, cảm xúc và động lực thúc đẩy.


1- Tư duy

Chỉ số EQ - trí tuệ cảm xúc


Trí tuệ xúc cảm (emotional intelligence - EI) thường dùng dưới hàm nghĩa nói về chỉ số cảm xúc (emotional intelligence quotient - EQ)[1] của mỗi cá nhân. Chỉ số này mô tả khả năng, năng lực, kỹ năng (trong trường hợp của mô hình tính cách về trí tuệ xúc cảm) hay khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người, của người khác, của các nhóm cảm xúc[1]. Trí tuệ xúc cảm là nhánh nghiên cứu tương đối mới của ngành tâm lý học. Do đó, định nghĩa về trí tuệ xúc cảm không ngừng thay đổi.



[sửa]Nguồn gốc

Nguồn gốc sâu xa nhất của trí tuệ cảm xúc có thể truy ngược về việc Darwin nghiên cứu về tầm quan trọng của sự diễn đạt cảm xúc của các cá thể trong quá trình chọn lọc tự nhiên và các thay đổi thích nghi[2] Vào những năm 1900, mặc dù các định nghĩa truyền thống về trí tuệ nhấn mạnh tới yếu tố nhận thức như là trí nhớ và khả năng giải quyết vấn đề, nhiều nhà khoa học có ảnh hưởng trong lĩnh vực trí nghiên cứu trí tuệ đã bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của khía cạnh "ngoài nhận thức" (non-cognitive). Ví dụ như ngay từ những năm 1920, E. L. Thorndike, đã sử dụng khái niệm "hiểu biết xã hội" để miêu tả kỹ năng hiểu và quản lý người khác.[3]

Tương tự, năm 1940 David Wechsler đã miêu tả ảnh hưởng của yếu tố không hiểu biết tới các ứng xử thông minh, và chứng tỏ xa hơn rằng các mô hình của chúng ta về sự thông minh vẫn chưa hoàn thiện cho tới khi chúng ta có thể miêu tả thích đáng các yếu tố này. Năm 1983, trong cuốn Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences (Những cơ cấu của nhận thức: Lý thuyết về thông minh bội) [4] của Howard Gardner đã giới thiệu về ý tưởng về những thông minh bội mà trong đó bao gồm "Trí tuệ giữa các cá nhân" (khả năng hiểu những ý định, động cơ và mong muốn của người khác) và "Trí tuệ trong cá nhân" (khả năng hiểu ai đó, tán đồng cảm nhận của người đó, cảm giác sợ hãi và động cơ thúc đẩy). Trong quan sát của Gardner, các kiểu trí tuệ truyền thống như IQ, không thể giải thích một cách đầy đủ khả năng nhận thức của con người.[5] Vì vậy thậm chí với những tên cho trước đến những khái niệm biến đổi, đều có một tin tưởng chung rằng những định nghĩa truyền thống về trí tuệ đang thiếu khả năng giải thích những kết quả trước đó.

Wayne Payne là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ Trí tuệ xúc cảm (TTXC) trong luận văn tiến sỹ của anh: "Nghiên cứu về xúc cảm: Phát triển trí tuệ xúc cảm" vào năm 1985.[6] Tuy nhiên, thuật ngữ gần tương tự đã xuất hiện trước đó Leuner (1966). Greenspan (1989) cũng đồng thời đề xuất mô hình TTXC này năm 1985, nối tiếp bởi Salovey và Mayer (1990), và Goleman (1995).

[sửa]Định nghĩa

Có rất nhiều tranh luận về định nghĩa của TTXC khi xem xét thuật ngữ và cả các hoạt động. Tiên phong là Salovey và Mayer (1990) đã định nghĩa TTXC là "khả năng giám sát cảm giác và xúc cảm của một người nào đó và những người khác, phân biệt giữa họ và sử dụng thông tin này để dẫn dắt suy nghĩ và hành động của người đó". [7]

Mặc dù với định nghĩa sớm này, vẫn có sự nhầm lẫn khi xem xét nghĩa chính xác của cách xây dựng này. Các định nghĩa thường quá biến hóa, và các lĩnh vực cũng lớn mạnh rất nhanh, các nhà nghiên cứu thường xuyên thay đổi các định nghĩa.[8] Hiện tại, có ba mô hình TTXC chính:

  • Các mô hình về khả năng TTXC
  • Các mô hình hỗn hợp về TTXC
  • Mô hình đặc thù TTXC

[sửa]Các mô hình

[sửa]Mô hình về khả năng Trí tuệ xúc cảm

Nhận thức của Salovey và Mayer về TTXC đạt được khi định nghĩa TTXC bên trong những phạm vi của những tiêu chí cho một loại Trí tuệ mới. Theo những nghiên cứu liên tục của họ, định nghĩa ban đầu về TTXC được sủa đổi thành: "Khả năng tiếp nhận cảm xúc, tích hợp cảm xúc để làm thuận tiện việc suy nghĩ, hiểu và đièu chỉnh các cảm xúc cho việc xúc tiến sự phát triển cá nhân".

Quan điểm của mô hình khả năng TTXC như các nguồn thông tin hữu dụng mà có giúp ai đó có ý nghĩa và thông qua môi trường xã hội.[9] Mô hình đề xuất các cá thể có thể thay đổi trong khả năng của họ để xử lý thông tin của một xúc cảm tự nhiên và trong khả năng của họ liên quan đến việc xử lý cảm xúc để cung cấp một nhận thức sâu rộng hơn. Khả năng này được nhìn nhận như tự biểu hiện trong một vài hành vi thích hợp. Mô hình đề xuất TTXC bao gồm 4 loại khả năng:

  1. Tiếp nhận cảm xúc - khả năng phát hiện giải mã các cảm xúc trên gương mặt, tranh ảnh, giọng nói và các giả tạo văn hóa (cultural artifact). Tiếp nhận cảm xúc đại diện cho một khía cạnh của TTXC, như là nó làm cho tất cả các xử lý thông tin cảm xúc khác trở thành có thể.
  2. Sử dụng cảm xúc - khả năng khai thác các cảm xúc để thuận tiện cho nhiều hành vi nhận thức, như là nghĩ và giải quyết vấn đề. Trí tuệ cảm xúc cá nhân có thể tích lũy đầy đủ ngay lúc người ta thay đổi tâm trạng để phù hợp trực tiếp nhất với công việc.
  3. Hiểu cảm xúc - khả năng thấu hiểu các ngôn ngữ cảm xúc, hiểu rõ các mối quan hệ phức tạp giữa các cảm xúc. Ví dụ như hiểu cảm xúc hoàn thiện khả năng nhạy bén trước các thay đổi rất nhỏ giữa các cảm xúc, và khả năng nhận biết và mô tả các cảm xúc tiến hóa theo thời gian.
  4. Quản lý cảm xúc - khả năng điều chỉnh cảm xúc của bản thân và của người khác. Vì vậy, TTXC cá nhân có khai thác các cảm xúc, thậm chí cả những cảm xúc tiêu cực, và quản lý chúng để đạt được mục tiêu đã định.

Mô hình này bị chỉ trích trong nghiên cứu là thiếu hiệu lực trực diện và tiên đoán.[10]

[sửa]Các mô hình hỗn hợp của TTXC

[sửa]Mô hình Cảm xúc Năng lực (Goleman)

Mô hình giới thiệu bởi Daniel Goleman [11] tập trung về TTXC như là mảng sâu rộng các năng lực và kỹ năng điều khiển hiệu suất lãnh đạo. Mô hình của Goleman phác thảo 4 cách xây dựng TTXC chính:

  1. Tự nhận thức — khả năng đọc các cảm xúc và nhận ra ảnh hưởng của họ khi sử dụng cảm nhận Gut để hướng đến các quyết định.
  2. Tự quản lý — bao gồm điều khiển các cảm xúc, kích thích và thích nghi để thay đổi hoàn cảnh.
  3. Nhận thức xã hội — khả năng cảm nhận, hiểu và phản ứng với các cảm xúc của người khác khi nhận thức mạng xã hội.
  4. Quản lý mối quan hệ — khả năng truyền cảm hứng, gây ảnh hưởng và phát triển các kỹ năng khác khi quản lý xung đột.

Goleman bao hàm một tập các năng lực cảm xúc bên trong mỗi cách xây dụng TTXC. Các năng lực cảm xúc không phải là các tài năng bẩm sinh, mà là các khả năng học được, phải được đào tạo liên tục, phát triển và đạt đến hiệu năng nổi trội. Goleman thừa nhận rằng các cá thể được sinh ra với các TTXC chung có khả năng xác định được các khả nãng tiềm tàng cho việc học hỏi các kỹ năng xúc cảm.[12] Mô hình của Goleman bị chỉ trích chỉ là tâm lý bình dân. (Mayer, Roberts, & Barsade, 2008).

[sửa]Mô hình TTXC tính cách

Petrides và đồng nghiệp. (2000a, 2004, 2007) đã đề nghị phân chia khái niệm giữa mô hình khả năng và mô hình dựa trên tính cách của TTXC.[13] TTXC tính cách là "một chùm sao của các tri giác bản thân liên đới xúc cảm, định vị tại tầng thấp hơn của tính cách". Trong phạm vi hẹp, TTXC đặc điểm chỉ đến tri giác bản thân của một cá thể về các khả năng cảm xúc của họ. Định nghĩa này về TTXC bao gồm các cách sắp đặt hành vi và khả năng tự cảm nhận và được đo bởi báo cáo bản thân (self report), đối lập với mô hình dựa khả năng, đã được chứng minh là đề kháng cao với các phương pháp đo khoa học. TTXC đặc điểm cần được nghiên cứu bên trong khung cảnh của tính cách.[14] Một danh hiệu thay thế cho cùng cách xây dựng là hiệu quả bản thân về xúc cảm tính cách.

Mô hình tính cách TTXC là khái quát và là sự lắp ghép của mô hình Goleman và các mô hình ngoại lệ (Bar-On).

Khái niệm hóa về TTXC như là các tính cách cá nhân dẫn đến việc xây dựng những khả năng phép phân loại ngoài nhận thức của con người. Đây là cách phân biệt quan trọng như hướng thẳng đến các thao tác hóa của việc xây dựng lý thuyết và giả thuyết đã được phát biểu.

[sửa]Phê bình

[sửa]TTXC định nghĩa quá rộng và các định nghĩa của nó không ổn định

Một trong những lập luận chống lại tính đúng đắn lý thuyết của khái niệm gợi ý rằng thay đổi liên tục và mở rộng những định nghĩa - sẽ bao hàm vô số các yếu tố không liên quan - đã nêu ra một khái niệm khó hiểu.

"Cái gi là yếu tố chung hoặc tích hợp trong khái niệm được bao hàm: nội quan về cảm xúc, diễn đạt biểu cảm, giao tiếp không mô thức với những cái khác, sự thấu cảm, tự điều chỉnh, tính quy hoạch, suy nghĩ sáng tạo và hướng chú ý? Không có gi cả"."[15]

Những chỉ trích khác của Landy [16] đề cập rằng không có ổn định nào về các khái niệm và các phương pháp đo, siêu phân tích rất khó để thực hiện và lý thuyết nhất quán thì gần như bất lợi vi ảnh hưởng của sự thiếu ổn định.

[sửa]TTXC không được thừa nhận là một loại trí thông minh

Các phác thảo sớm của Goleman đã bị chỉ trích là thừa nhận rằng TTXC là một kiểu trí thông minh. Eysenck viết rằng mô tả của Goleman về TTXC hàm chứa các giả định về trí thông minh nói chung và rằng nó thậm chí vẫn đối nghịch với cái mà các nhà nghiên cứu phải kỳ vọng khi nghiên cứu các dạng thông minh:

"Goleman ví dụ hóa rõ ràng hơn tất cả các điều ngớ ngẩn căn bản khác về xu hướng phân loại hầu hết bất kỳ hành vi nào đều như một kiểu 'thông minh'... Nếu năm khả năng định nghĩa 'TTXC', chúng ta có thể kỳ vọng vài điều hiển nhiên rằng chúng đã quá tương quan; Goleman thừa nhận rằng chúng có thể không liên qua, và trong mọi trường hợp rằng nếu chúng ta không thể cân đo đong đếm, làm thế nào chúng ta biết được rằng chúng có liên quan? Vì vậy toàn bộ lý thuyết được xây dựng trên một nền móng không vững chắc: không có sự đúng đắn của khoa học căn bản".

Tương tự, Locke (2005) [15] nêu lên rằng khái niệm của TTXC ngay trong bản thân nó là một giải thích sai lầm về xây dựng trí thông minh và anh ta đề nghị một cách diễn đạt khác: nó không phải là một kiêu hay dạng khác của trí thông minh, nhung trí thông minh--khả năng nắm đượctrừu tượng hóa--ứng dụng như một lãnh vực đặc thù của đời sống: các cảm xúc. Ông gợi ý rằng khái niệm có thể được đặt tên lại và tham chiếu như là một kỹ năng.

[sửa]TTXC không có giá trị tiên đoán thực tế

Landy (2005)[16] đã xác nhận rằng chỉ có vài nghiên cứu tích lũy hợp lý về TTXC đã chứng minh rằng nó chỉ thêm vào rất ít hay không có giải thích hoặc tiên đoán về các kết quả chung (hâu hết các thành công hàn lâm nổi tiếng). Landy đề xuất rằng lý do mà các nghiên cứu đã tìm thấy một lượng tăng nhỏ trong hiệu lực tiên đoán là trong thực tế, một phương pháp luận ngụy biện -các xem xét không đầy đủ về các giải thích thay thế:

"TTXC được so sánh và tương phản với một phép đo của trừu tượng hóa trí tuệ với một phép đo tính cách hoặc với một phép đo tính cách nhưng không có trí tuệ hàn lâm" Landy (2005)

Để đồng ý với gợi ý này, những nhà nghiên cứu khác đã nêu lên các liên qua về mở rộng tới cái gọi là các phép đo TTXC tự nhận thức, tương quan với thứ nguyên tính cách. Nói chung, các phép đo TTXC tự nhận thức là hội tụ bởi vì chúng đều có nội dung là đo tính cách và bởi vì chúng đều được đo trong các hình thức tự nhận thức.[17] Đặc biệt, xuất hiện hai đại lượng trong năm nhân cách chính nổi bật hẳn lên như là tự báo cáo bản thân một cách liên quan nhất như tâm thần hoặc hướng ngoại. Đặc biệt, thuyết thân kinh liên quan đến các cảm xúc tiêu cực như là lo lắng. Bằng trực giác, mỗi cá thể ghi lại điểm cao nhất trên thân kinh như là ghi điểm thấp nhất trên phương pháp tự đo TTXC.

Các cách hiểu sự tương quan giữa các TTXC tự báo và các tính cách biên đổi và không nhất quán. Nhiều nhà nghiên cứu đã xác nhận rằng các tương quan trong khoang .40 tạo nên hoàn toàn nhưng dư thừa,[18] trong khi những người khác gợi ý răng TTXC tự báo là một tính cách ngay trong bản thân nó.[13]

[sửa]Ghi chú và tham khảo

  1. ^ Bradberry, Travis and Greaves, Jean. (2005). The Emotional Intelligence Quick Book. New York: Simon and Schuster. (ISBN: 0743273265)
  2. ^ Bar-On, R. (2006). The Bar-On model of emotional-social intelligence (ESI). Psicothema, 18 , supl., 13-25.
  3. ^ Thorndike, R.K. (1920). "Intelligence and Its Uses", Harper's Magazine 140, 227-335.
  4. ^ Gardner, H. (1983). Frames of mind. New York: Basic Books.
  5. ^ Smith, M. K. (2002) "Howard Gardner and multiple intelligences", the encyclopedia of informal education, Downloaded fromhttp://www.infed.org/thinkers/gardner.htm on October 31, 2005.
  6. ^ Payne, W.L. (1983/1986). A study of emotion: developing emotional intelligence; self integration; relating to fear, pain and desire. Dissertation Abstracts International, 47, p. 203A. (University microfilms No. AAC 8605928)
  7. ^ Salovey, P. & Mayer, J.D. (1990) "Emotional intelligence" Imagination, Cognition, and Personality, 9, 185-211
  8. ^ Dulewicz V & Higgs M. (2000). Emotional intelligence – A review and evaluation study. Journal of Managerial Psychology 15 (4), 341 – 372
  9. ^ Salovey P and Grewal D (2005) The Science of Emotional Intelligence. Current directions in psychological science, Volume14 -6
  10. ^ Bradberry, T. and Su, L. (2006). Ability-versus skill-based assessment of emotional intelligence, Psicothema, Vol. 18, supl., pp. 59-66. [http://www.psicothema.com/pdf/3277.pdf
  11. ^ Goleman, D. (1998). Working with emotional intelligence. New York: Bantam Books
  12. ^ Boyatzis, R., Goleman, D., & Rhee, K. (2000). Clustering competence in emotional intelligence: insights from the emotional competence inventory (ECI). In R. Bar-On & J.D.A. Parker (eds.): Handbook of emotional intelligence (pp. 343-362). San Francisco: Jossey-Bass.
  13. a b Petrides, K. V. & Furnham, A. (2000a). On the dimensional structure of emotional intelligence. Personality and Individual Differences, 29, 313-320
  14. ^ Petrides, K. V. & Furnham, A. (2001). Trait emotional intelligence: Psychometric investigation with reference to established trait taxonomies. European Journal of Personality, 15, 425-448
  15. a b Locke, E.A. (2005). Why emotional intelligence is an invalid concept. Journal of Organizational Behavior, 26, 425-431.
  16. a b Landy, F.J. (2005). Some historical and scientific issues related to research on emotional intelligence. Journal of Organizational Behavior, 26, 411-424.
  17. ^ MacCann, C., Roberts, R.D., Matthews, G., & Zeidner, M. (2004). Consensus scoring and empirical option weighting of performance-based emotional intelligence tests. Personality & Individual Differences, 36, 645-662.
  18. ^ Davies, M., Stankov, L., & Roberts, R. D. (1998). Emotional intelligence: In search of an elusive construct. Journal of Personality and Social Psychology, 75, 989-1015.

 

nguồn Wikipedia

 

[1]Hiện nay chưa tồn tại phương pháp nào được công nhận là xác định được EQ, vì thế cụm từ "chỉ số EQ" có thể là một nghi vấn và chúng ta không thể xác định được chỉ số này là bao nhiêu ở mỗi người .

Các chỉ số suy đoán như SQ (thông minh Xã Hội) cũng là một nghi vấn, vì hiện chưa tồn tại cách xác định "chỉ số" này.  

Trung bình mỗi gia đình ở Việt Nam có 44 triệu VNĐ

 Sẽ không tồn tại một con số chính xác 100% nào.

 Tuy nhiên ở đây chúng tôi cố gắng đưa ra một vài con số dựa trên 1 công thức:

 

 Kết quả cho thấy: (Tất cả các con số đều được làm tròn)  Tính đến tháng 9 năm 2009 ở Việt Nam:

 

 Có một nửa số gia đình[1] có nhiều hơn và một nửa gia đình có ít hơn 44 triệu đồng (bao gồm tiền và các tài sản tương đương tiền (vàng, bạc, đá quý, chứng khoán,... )).

 Cứ 6 gia đình thì có 1 gia đình có từ 200 triệu trở lên.

 Cứ 132 gia đình thì có 1 gia đình có từ 1 tỷ trở lên.

 Cứ 3100 gia đình thì có 1 gia đình có từ 5 tỷ trở lên.

 Cứ 9400 gia đình thì có 1 gia đình có từ 10 tỷ trở lên.

 

Việt Nam có khoảng 26 triệu hộ gia đình (số liệu của Tổng cục thống kê), như vậy, Việt Nam có 200 nghìn gia đình tỷ phú[2], tương ứng có khoảng 660 nghìn người là thành viên của 1 gia đình tỷ phú.

 

Những con số trên có ý nghĩa trong việc xác định vị trí của mỗi gia đình trong tổng thể Xã Hội.

 

Một con số khác cũng đáng lưu tâm đó là trung bình một người và gia đình của mình mất khoảng từ 17 đến 19 năm để trở thành tỷ phú. Không tính các chi phí như tiền ăn, ở, mua sắm đồ đạc, trang thiết bị, phương tiện giao thông,... bỏ ra để duy trì cuộc sống trong suốt thời gian nói trên, chỉ tính tài sản bằng tiền hoặc có thể rất dễ đổi ra tiền như vàng, bac, đá quý, chứng khoán, ... 

 

[1]Gia đình: Nếu xem xét tỉ mỉ hơn 1 bậc, có thể thấy tồn tại sự bất bình đẳng giữa 1 gia đình mới thành lập và 1 gia đình đã thành lập lâu hơn. Khoảng cách có thể là rất đáng kể giữa 1 gia đình tồn tại dưới 5 năm và một gia đình đã tồn tại trên 20 năm. Trong trường hợp này thì khái niệm tiền tích lũy được hàng năm thường có tính chính xác cao hơn trong việc so sánh.

Ví dụ: một gia đình tiết kiệm được trung bình 40 triệu/1 năm và đã thành lập được 4 năm tuy có tổng số tiền hiện tại ít hơn 1 gia đình đã tồn tại 10 năm nhưng mỗi năm chỉ tích lũy được 20 triệu. Khả năng về tốc độ tích lũy và khả năng về tương lai của gia đình trẻ hơn rõ ràng là tươi sáng hơn rõ rệt so với gia đình già hơn.

[2]Tỷ phú: là khái niệm chỉ những người có từ 1 tỷ đồng trở lên và được Xã hội Việt Nam hiện tại công nhận rộng rãi để chỉ một người giàu có.

     Tuy nhiên điều này có thể là không đúng hẳn nếu xem xét ở mức độ tỉ mỉ hơn 1 bậc. Vì, có thể những người tạm gọi là giàu có này chưa có nhà mà vẫn phải đi thuê, có thể những số tiền này cần thiết phải được dùng để mua nhà cho con cái trưởng thành đã đến tuổi lập gia đình... và tất cả đều chưa tính đến những rủi ro về kinh doanh, những khoản nợ, những sự vi phạm luật pháp như tham nhũng, buôn lậu,... tồn tại khá nhiều trong Xã hội Việt Nam.

 

Giáo dục Việt Nam

Nhân bài Havard bàn về khủng hoảng giáo dục Việt Namhttp://tuanvietnam.net/vn/harvard/7962/index.aspx

tôi có một vài suy nghĩ về tình hình Việt Nam lúc này:

Từ bài viết trên, chúng ta có được 2 bảng số liệu đáng chú ý về thực trạng khoa học nước nhà:

 

 

Bài viết được xuất bản trên các tạp chí khoa học năm 2007

Cơ sở

Quốc gia

Số bài viết

Đại học tổng hợp Quốc gia Seoul

Hàn Quốc

5.060

Đại học tổng hợp Quốc gia Singapore

Singapore

3.598

Đại học tổng hợp Bắc Kinh

Trung Quốc

3.219

Đại học tổng hợp Phúc Đan

Trung Quốc

2.343

Đại học tổng hợp Mahidol

Thái Lan

950

Đại học tổng hợp Chulalongkorn

Thái Lan

822

Đại học tổng hợp Malaya

Malaysia

504

Đại học tổng hợp Philippines

Philippines

220

Đại học Quốc gia Việt Nam (Hà Nội và thành phố HCM)

Việt Nam

52

Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Việt Nam

44

Nguồn: Science Citation Index Expanded, Thomson Reuters

 

Chỉ số sáng tạo

Quốc gia

Số  bằng sáng chế được cấp năm 2006

Hàn Quốc

102.633

Trung Quốc

26.292

Singapore

995

Thailand

158

Malaysia

147

Philippines

76

Việt Nam

0

Nguồn: World Intellectual Property Organization, 2008 Statistical Review 

 

 Cách đây không lâu tháng 12/2008, ngân hàng Thế giới cũng đưa ra một bản báo cáo về kinh tế Việt Nam mà nội dung của nó là:

Báo cáo Phát triển Việt Nam (VDR) của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố tháng 12/2008 tính toán 158 năm nữa Việt Nam mới đuổi kịp Singapore, 95 năm với Thái Lan và 51 năm với Indonesia.

Nhìn vào chi tiết hơn của vấn đề chúng ta thấy rằng:

 - Hiện nay thì Giáo dục (gốc rễ của việc phát triển Khoa học) của chúng ta đã và đang lệch lạc, thậm chí là một sai lầm.

 - Kinh tế Việt Nam đang tiến theo quan điểm ngắn hạn. Những năm gần đây, về sản phẩm, hàng hóa chúng ta gần như không có tiến bộ gì trong khi những ngành ký sinh trên nền kinh tế như ngân hàng, tài chính, dịch vụ, phân phối, bán lẻ, vận chuyển... phát triển mạnh. 

 

Về giáo dục:

Tồn tại 

1) Trước hết chúng ta thấy rằng: ở bậc học phổ thông, học sinh phải học quá nhiều nhưng tính lợi ích không cao. 

 Thay vì phải xem xét, nghiên cứu và phản bác kiến thức để từ đó phát triển nó ở những mức độ khác nhau từ đính chính, sửa đổi đến đột phá, sáng tạo thì nền giáo dục phổ thông của chúng ta tập trung vào việc truyền đạt kiến thức, coi trọng và đẩy mạnh việc áp dụng kiến thức ở những mức độ từ thấp đến cao.

 Đơn cử trong môn toán, học sinh được dậy lý thuyết, sau đấy được học và làm theo những bài tập từ đơn giản đến rất khó chủ yếu được các tác giả và giáo viên dịch ra từ các sách nước ngoài. Điều này khiến cho học sinh giỏi ở Việt Nam trở thành những "thợ giải bài tập trong công xưởng trường học".

 Vì học sinh nào cũng học hỏi lý thuyết và nghiễm nhiên chấp nhận nó như chân lý đã vô tình giết chết khả năng phản biện cũng như sức sáng tạo hay ham muốn chỉ ra tính sai lầm của lý thuyết - mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục. Việc học thêm tối ngày với nhiều ca học để có 1 chỗ trong trường Đại học đã khắc sâu tính "Thợ" trong sinh viên đến nỗi mà có cảm tưởng như việc nghiên cứu tìm ra những điều hữu ích, mới cho Xã Hội - ý nghĩa lớn nhất của bậc Đại Học - gần như không tồn tại ở cả giảng viên và sinh viên Việt Nam. Kết quả tồi tệ được thể hiện qua 2 bảng số liệu ở trên.

  Sai lầm trầm trọng về mục tiêu hay mục đích của giáo dục này được xuất phát từ khá lâu, ngay từ buổi đầu của nền giáo dục nước nhà. Để thay đổi điều này là rất không dễ vì chúng ta đang tồn tại cả một hàng ngũ giáo viên như thế, học sinh thì đương nhiên không có vai trò quyết định gì.

 

 Nghe thì có vẻ là bi quan, nhưng thực tế cho thấy rằng nền giáo dục của chúng ta có thể chẳng thu được kết quả nào nếu tiếp tục đi theo con đường hiện tại trong các năm tới.

 

2) Ngoài ra, cũng phải nói thêm rằng, những giá trị đạo đức là rào cản lớn cho giáo dục nước nhà.

Học trò được dậy cần phải tôn sư trọng đạo, coi thầy cô giáo như cha mẹ, điều này đã vồ tình khiến cho lớp học trở thành nơi truyền giáo, dạy dỗ và tù túng. Những ý kiến của thầy cô là chân lý trong lớp học và không ai có quyền phản bác lại ý kiến của họ. Thực tế chúng ta phải thấy bản chất sâu xa rằng, người thầy chỉ có vai trò trung gian chuyển tải kiến thức từ người nghĩ ra nó đến người cần học nó. 

Điều có thể tạm gọi là "tiêu cực" cho giáo dục này, tồn tại không chỉ ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các nước châu Á.

Điều đáng tiếc là: nguyên nhân của việc tụt hậu của phương Đông so với phương Tây trong khả năng sáng tạo và tìm ra những cái mới có một phần quan trọng là từ việc coi trọng quá mức vị trí của người thầy trong Xã hội. Đáng nhẽ chúng ta phải thay đổi một chút, đưa người thầy ở mức độ hợp lý và đề cao, tôn vinh xứng đáng những nhà khoa học, nhà nghiên cứu... vì chính họ mới là người tạo ra toàn bộ những thứ mà chúng ta có hôm nay.

 

3) Chảy máu chất xám.

Những người tạm gọi là "học giỏi" của Việt Nam, do nhận thấy một cách từ mơ hồ đến  rõ ràng về tình hình và thực trạng của giáo dục cũng như đời sống của nước nhà, tìm nhiều cách nếu không muốn nói là có một bộ phận chiếm đa số tìm mọi cách để được "thoát ly". Chân trời mới giải quyết cho họ những vấn đề thuộc về cá nhân như môi trường học tập, nghiên cứu, danh tiếng, kinh tế.... cho cá nhân và cả gia đình họ.

Điều này khiến cho bao nhiêu thứ quý báu nhất của dân tộc lại được dùng để tạo ra lợi ích cho một hay một số Quốc gia vốn đã rất mạnh. Nó hiển nhiên tạo thành hẳn một dòng chảy khắc sâu trong suy nghĩ của Xã hội.

 

 

Giải quyết

 

Để giải quyết những vấn đề hiện tại của Việt Nam là không khó, tuy nhiên ai sẽ là người bấm nút khởi động và bao giờ người đó mới xuất hiện thì vẫn là một câu hỏi lớn:

 

 1) Để giải quyết vấn đề thứ nhất ta chỉ cần phải thay đổi 2 điều sau:

       a) Thay đổi cách thi cử. Khiến cho thi cử thật nhẹ về kiến thức nhưng nặng về tư duy, đến nỗi mà một người có trí tuệ vượt trội có thể vào Đại Học sớm trước nhiều năm. Nói cách khác là chúng ta làm theo kỳ thi SAT hay tương tự. Một đứa trẻ 8 tuổi nếu thông minh ở mức 1 phần triệu có thể dễ dàng vào được Đại Học. Hệ lụy là tình trạng nhồi nhét kiến thức không cần thiết, học dạng, luyện lò ... chấm dứt và quan trọng là loại bỏ được yếu tố "thợ" đã ngự trị trong học sinh sinh viên cũng như giáo viên của chúng ta hiện nay.

       b) Tuy nhiên, vấn đề mà chúng ta phải giải quyết là thu nhập cho giáo viên. Có thể nói hiện nay việc nhà nước trả lương cho giáo viên tồn tại nhiều bất cập. Cách đây 20 năm những điều này là đúng, nhưng hiện tại thì nó không còn đúng ít ra ở khu vực thành thị và các nơi khá phát triển về kinh tế. Chúng ta sẽ xem xét giải pháp sau:

-  Chúng ta xóa bỏ trường công lập ở các thành phố lớn. Kèm theo nhà nước không trả lương cho giáo viên. Mà tiền lương của giáo viên sẽ được đóng góp từ phụ huynh học sinh. Lưu ý là xét trên tổng thể mà nói thì phụ huynh sẽ không phải đóng góp nhiều hơn cho việc học của con cái mà ít hơn rất nhiều, họ sẽ không phải chi tiền học thêm, học nếm, luyện lò rất mất thời gian mà không được lợi lộc gì cho dân tộc. Việc luyện lò như hiện nay khiến tiền của phụ huynh tập trung vào 1 số ít giáo viên giỏi luyện gà và có năng lực trong việc tìm kiếm và giảng dạy những vấn đề nóng, còn đại đa phần giáo viên chẳng có cơm cháo gì.

- Dồn toàn bộ ngân sách đáng nhẽ để trả lương cho giáo viên ở thành thị cho giáo viên ở các tỉnh khó khăn, duy trì trường công lập ở đây, vô hình chung lương của giáo viên nơi đây sẽ tăng lên đáng kể.

Tóm lại với giải pháp đơn giản, cở bản và thực hiện dễ dàng trên chúng ta nâng đời sống của giáo viên lên một mức cao nhất có thể mà Xã Hội không phải chi thêm bất kỳ đồng nào. 

 

   2) Vấn đề thứ 2 là một vấn đề khó, tuy nhiên, thay vì đánh thẳng trực tiếp vào nó, ta có thể đánh gián tiếp bằng cách tăng dần và mạnh mẽ vị trí của học trò trong trường học.

 Giống như chúng ta nói ở đây, một lớp học gồm 40 học sinh có quyền chọn ai dạy mình bằng cách đánh giá điểm cho giáo viên, nhanh chóng điều này sẽ khiến cho các giáo viên trở về thực tại và nâng cao chất lượng giảng dạy, cạnh tranh với nhau để có chỗ đứng trong trường...

 Điều này tuy nói thì dễ, nhưng ai dám làm, và đương nhiên họ phải đối mặt với toàn thể những thầy cô giáo lâu năm, ít năm... Nói chung chúng ta cần phải có một cách mạng trong tư duy  Xã hội về người giáo viên để có thể làm cho các học trò những người có khả năng sáng tạo mạnh mẽ nhất có thể tranh luận với giáo viên, chỉ ra những sai lầm của lý thuyết và kiến thức.

 

   3) Vấn đề thứ 3 nghe thì có thể bi quan nhưng nó là vô phương cứu chữa trong hoàn cảnh hiện nay khi mà chênh lệch về các điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng và kinh tế cũng như danh tiếng... của nước ta còn quá lớn so với các nước phát triển.

 Có thể nói rằng tốt nhất là chúng ta mong chờ kinh tế phát triển, sau đó mới giải quyết vấn đề chảy máu chất xám.

 Nhiều học giả đã không tiếc giấy mực để cố gắng giải quyết vấn đề chảy máu chất xám, nhưng xét trên logic học thì có vẻ như chẳng có lợi ích gì. Vấn đề chỉ được giải quyết khi nguyên nhân của nó được giải quyết, mà nguyên nhân của nó thì rõ ràng là vấn đề điều kiện làm việc, kinh tế... cả 2 điều này Việt Nam của chúng ta ai cũng thấy là chênh lệch rất xa so với các nước phát triển. Nhiều ý kiến cho rằng, chúng ta phải nâng cao đãi ngộ, nhưng đãi ngộ nâng cao trong khi năng lực về kinh tế của nước ta còn yếu thì không khác nào bắt người đang bệnh đi bộ để cạnh tranh với một người khỏe mạnh đang chạy. Lợi ích mang lại có thể không cao. 

 

  4) Những tiểu xảo[1] cũng không kém phần quan trọng: 

 

a) Điều hay nhất của chúng ta cần làm là thực hiện cuộc trường chinh trong giáo dục để tìm ra giải Nobel đầu tiên về khoa học của nước nhà. Giải thưởng cần phải được trích ra và đủ lớn ví dụ 100 tỷ đồng VN.

 Nếu tồn tại một người mang lại giải Nobel cho Việt Nam về khoa học thì chẳng khác nào chúng ta đã thành công trong giáo dục. Lợi ích thực tế của một giải Nobel có thể không lớn, nhưng nó sẽ chìa khóa để mơ ra trào lưu nghiên cứu khoa học. 

 

b) Chúng ta cũng có thể áp dụng tiểu xảo không tốn tiền bằng cách lập ra những bảng xếp hạng trường Đại Học của Việt Nam đồng thởi cải cách vấn đề chọn trường.

 Ví dụ: Tạo ra 1 bảng xếp hạng Đại Học của Việt Nam dựa trên tiêu chí đầu bảng là số lượng và chất lượng bài viết trên các tạp chí khoa học hàng đầu của thế giới.

  Chúng ta đồng thời cũng đặt ngược lại vấn đề chọn trường của học sinh cuối cấp. Thay vì học sinh A phải chọn trường ABC trước khi thi và biết kết quả thì học sinh ấy sẽ được chọn trường sau khi thi và biết kết quả.

 Điều này làm hại học sinh A ít ra trong việc xác định khả năng của mình, tuy nhiên tạo ra một làn sóng cạnh tranh khốc liệt giữa các trường Đại Học.  Đương nhiên với số điểm cao, em A sẽ vào trường ĐH mà em cho là tốt nhất.

 

c) Với các lãnh đạo và giảng viên của các trường, người có số lượng bài viết và chất lượng bài viết trên các tạp chí uy tín quốc tế đứng đầu sẽ vào đảm nhận trưởng khoa X của trường Y, còn những tiến sĩ giấy thì vào làm phụ giảng nếu không có công trình khoa học nào được biết đến ở tầm quốc tế.

Việc chọn lọc giảng viên ở mức độ cao này không những tốt cho chất lượng giảng dạy mà còn kéo theo sự thay đổi quan điểm của sinh viên, họ mau chóng nhận ra và khâm phục người thầy của mình, đồng thời mở ra cánh cửa cho sức sáng tạo và ý thức được giá trị của những gì tạm gọi là "giá trị đích thực của giáo dục".

Chúng ta không học thuộc 1000 quyển sách, cái này đã có ổ cứng của máy tính lo, vai trò của chúng ta là suy nghĩ về 1 quyển sách rồi sau đó viết ra 1 quyến sách khác.

 

Nếu chúng ta tiến hành những giải pháp này, chẳng khó để 10 năm tới khi chúng ta nhìn vào các bảng số liệu tượng như trên và thấy rằng VN xếp ngang hàng với các nước ĐNÁ chứ không cách biệt quá xa như hiện nay.

 

Về Kinh Tế 


 


Chú thích:

 [1] Từ "tiểu xảo" có thể được hiểu như một ý nghĩa tiêu cực, không đường hoàng. Tuy nhiên trong từ điển Việt Nam, từ "tiểu xảo" được giải nghĩa như sau:

"mẹo nhỏ nhưng có tính khéo léo (trong một công việc đòi hỏi phải có tài năng, có sáng tạo)."

 

 

Vì sao người Do Thái thông minh và Việt Nam chúng ta có thể học tập được gì?

"Người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới, họ dường như được sinh ra là để làm chủ thế giới này". Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao họ lại thông minh như vậy? Tại sao họ lại được sinh ra với quá nhiều ưu việt như thế? Có phải tất cả đều là tự nhiên? Liệu Việt Nam chúng ta có thể tạo ra những thế hệ ưu việt như thế không? Tất cả câu hỏi trên đều có thể giải đáp được, ngoại trừ câu hỏi cuối cùng vì nó sẽ được trả lời bởi chính các bạn, những con người của dân tộc Việt Nam.


Bài viết dưới đây được lấy từ blog của tác giả Thanh Hằng trên mạng My Space. Nó được lược dịch từ luận án của một tiến sĩ nước ngoài với tiêu đề gốc là "Why Jews Are Intelligent" [1] (tạm dịch là "Vì sao người Do Thái thông minh"). Bài viết rất hay và có ý nghĩa nhưng chỉ có điều do được đăng ở một blog nên tính phổ biến không cao. Tôi xin phép đăng bài viết ở đây với hi vọng bài viết này sẽ đến được với nhiều người Việt Nam hơn.

Trước hết xin được cung cấp một số thông tin tìm hiểu được về IQ của người Do Thái. Hiện nay các nhà nghiên cứu về giáo dục và tâm lý tin rằng IQ TB của người Do Thái vào khoảng từ 107,5 đến 115 (sd15). Để so sánh thì IQ TB của thế giới là 100 và IQ của người Việt Nam (theo một khảo sát) là 94. Cách biệt sẽ không rõ ràng nếu chỉ nhìn vào những con số này.Mọi thứ sẽ trở nên thực sự khác biệt nếu như ta so sánh đến tỉ lệ "thiên tài" (IQ>=140 - cũng là mức yêu cầu của VNHIQ) trong số dân. Với IQ TB của dân số là 94 thì tỉ lệ "thiên tài" sẽ là 1/924 hay 0,1%, tỉ lệ này sẽ là 1/261 hay 0,4% nếu IQ TB là 100. Sự khác biệt sẽ cực lớn vì với mức IQ TB là 110 như người Do Thái thì tỉ lệ những người có IQ đạt mức thiên tài này sẽ lên tới 2,3% (nghĩa là cứ 100 người sẽ có hơn 2 thiên tài)

Sau đây là bài dịch của tác giả Thanh Hằng:

"Bài này tôi lược dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn, nhân dịp nghe chuyện người Do Thái và vì thầy hướng dẫn hiện tại của tôi là một Giáo sư người Do Thái ở Anh có tên tuổi khiến tôi đi hêt từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Để mở đầu, xin được trích dẫn rằng, dân số Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng xấp xỉ 13 triệu người (tức là khoảng 0.21% dân số thế giới - số liệu năm 2000), tức là cứ 470 người thì có 1 người Do Thái. Vậy nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài ngưởi chỉ do 0.21% dân số đảm nhiệm.

Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, người sáng tạo ra chủ nghĩa Cộng sản Karl Marx, Otto Frisch, .v.v. đều là người Do Thái.

Dù không phải là chủng tộc lớn, vậy nhưng không một nhóm chủng tộc nào có thể sánh được với người Do Thái về khả năng và thành tích vượt trội. Kết hợp với những tính cách di truyền của người Do Thái như tham vọng, ham hiểu biết, tích cực, trí tưởng tượng phong phú, bền bỉ, sự thông minh của người Do Thái thực sự đã là đòn bẩy khiến người Do Thái đứng đầu trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống.

Những tên tuổi Do Thái hiện nay có thể kế đến là nhà tài phiệt George Soros (người có thể làm khuynh đảo thị trường tài chính thế giới, được xem là người đứng sau sự sụp đổ hệ thống chính trị cộng sản ở Đông Âu và khủng hoảng tài chính Châu Á 1997); các cựu và chủ tịch Ngân hàng thế giới World bank đương nhiệm đều là người Do Thái ví dụ như James Wolfensohn, Paul Wolfowitz, Robert Zoellick. Diễn viên điện ảnh thông minh và có học thức thuộc hàng top Hollywood hiện nay là Natalie Portman cũng là người Do Thái, vừa theo học ĐH Havard và tham gia bộ phim siêu phẩm Chiến tranh giữa các vì sao.

Trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống như kỹ thuật, âm nhạc, khoa học và kinh doanh, 70% các hoạt động kinh doanh thế giới hiện nay đều do người Do Thái nắm giữ. Các lĩnh vực kinh doanh nổi bật như mỹ phẩm, thời trang, thực phẩm, vũ khí, khách sạn, công nghiệp phim ảnh (kể cả Hollywood và các trung tâm điện ảnh khác).

Trong năm thứ 2 đại học, vào tháng 12 năm 1980, tôi định đến California và tôi nảy ra ý tường, tôi tự hỏi sao trời lại cho họ những khả năng siêu phàm như vậy, liệu có điều gì trùng hợp chăng, loài người có thể tạo ra những người giống họ như việc sản xuất hàng hóa từ nhà máy không? Luận văn của tôi mất 8 năm để tập hợp thông tin từ tất cả các nguồn tin chính xác như đồ ăn, văn hóa, tôn giáo, sự chuẩn bị khi mang thai, .v.v. và tôi đem so sánh với những chủng tộc khác.

Hãy bắt đầu bằng việc chuẩn bị cho thai kỳ. Ở Israel, điều đầu tiên tôi nhận thấy đó là người mẹ khi mang thai sẽ thường xuyên hát, chơi đàn, và luôn cố gắng giải toán cũng chồng. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy người mẹ luôn mang theo sách toán và đôi khi tôi giúp cô giải bài. Tôi hỏi cô, ‘việc này có phải là giúp cho thai nhi?’. Và cô trả lời, ‘Đúng vậy, tôi làm thế là để đào tạo đứa trẻ từ khi còn trong bụng mẹ như vậy nó sẽ trở nên thông thái về sau.’ Và cô tiếp tục làm toán cho đến khi đứa trẻ được sinh ra.

Một điều khác tôi nhận thấy là đồ ăn. Người mẹ rất thích ăn hạnh nhân, chà là cùng sữa tươi. Bữa trưa cô ăn bánh mỳ và cá (không ăn đầu), salad trộn với hạnh nhân và những loại hạt khác vì họ tin rằng thịt cá tốt cho sự phát triển trí não nhưng đầu cá thì không. Thêm vào đó, theo văn hóa của người Do Thái, người mẹ khi mang thai sẽ cần phải uống dầu gan cá.

Khi tôi được mời đến dùng bữa tối, tôi thấy rằng họ luôn dùng cá (phần thịt ở mình cá), họ không ăn thịt vì họ tin rằng thịt và cá khi ăn chung sẽ không tốt cho cơ thể. Salad và các loại hạt là điều bắt buộc, đặc biệt là hạnh nhân.

Họ luôn ăn hoa quả tươi trước bữa chính. Lý do là vì họ tin rằng việc ăn bữa chính trước rồi hoa quả sẽ khiến chúng ta buồn ngủ và khó tiếp thu bài ở trường.

Ở Israel, hút thuốc là điều cấm kỵ. Nếu bạn là khách thì không nên hút thuốc trong nhà họ, họ sẽ lịch sự mời bạn ra ngoài để hút thuốc. Theo các nhà khoa học ở Đại học Israel, chất nicotine sẽ phá hủy những tế bào cơ bản trong cơ thể đồng thời ảnh hưởng đến gen và DNA (tế bào di truyền) dẫn đến sự thoái hóa bộ não.

Đồ ăn cho trẻ cũng luôn trong sự hướng dẫn của cha mẹ. Đầu tiên, hoa quả ăn cùng với hạnh nhân, sau đó là dầu gan cá. Theo đánh giá của tôi, những đứa trẻ Do Thái đều biết 3 thứ tiếng, ví dụ như tiếng Do Thái, Ả rập và tiếng Anh. Từ khi còn nhỏ, trẻ em đã được học đàn piano và violin, và đây là điều bắt buộc. Làm như vậy vì họ tin rằng điều này sẽ làm tăng chỉ số thông minh của trẻ và sẽ khiến con họ trở nên thông minh. Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái ...

Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em được dạy các môn về kinh doanh, toán học, khoa học. Để so sánh , tôi có thể nhận thấy trẻ em ở California, chỉ số IQ của chúng khoảng 6 năm về trước. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn sung, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biết nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.

Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái. Thiết kế mẫu thời trang mới nhất của Levis là của khoa kinh doanh và thời trang của trường ĐH Israel.

Đã bao giờ bạn thấy họ cầu nguyện chưa? Họ sẽ luôn lắc đầu vì họ tin rằng hành động này sẽ kích thích và cung cấp nhiều oxy cho não. Điều tương tự giống như người Hồi giáo khi cầu nguyện họ phải quỳ lạy cúi đầu. Và hãy xem những người Nhật Bản, cách họ cúi đầu và người Nhật Bản cũng có rất nhiều người thông minh, họ thích ăn sushi (thịt cá tươi). Liệu đây có phải là sự trùng hợp?

Trung tâm thương mại của người Do Thái tập trung ở thành phố New York, và chỉ phục vụ cho người Do Thái. Nếu ai đó trong cộng đồng Do Thái có ý tưởng hay có thể sinh lời, hội đồng người DT sẽ cung cấp khoản vay không lãi suất và đảm bảo việc kinh doanh này phải phát triển. Vì lý do này, Starbuck, Dell, Coca-cola, DKNY, Oracle, Levis, Dunkin Donut, các bộ phim Hollywood và hàng trăm hoạt động kinh doanh khác đều nằm dưới sự tài trợ của cộng đồng Do Thái. Sinh viên Do Thái tốt nghiệp từ khoa y dược ở New York được khuyến khích đăng ký với hội đồng này và được phép hành nghề tư với khoản vay không lãi suất này.

Hút thuốc sẽ khiến bộ não bị thoái hóa. Trong chuyến thăm của tôi đến Singapore năm 2005, điều khiến tôi ngạc nhiên là những người hút thuốc bị coi như đồ bỏ đi và giá một bao thuốc là khoảng 7 USD. Cũng giống như ở Israel, việc hút thuốc là cấm kỵ và Singapore đã hình thành cách quản lý giống như ở Israel. Đây cũng là lý do vì sao hầu hết các trường ĐH của Singapore đều thuộc đẳng cấp cao, dù Singapore chỉ nhỏ bằng Mahattan. Hãy nhìn sang Indonesia, đâu đâu mọi người cũng hút thuốc và giá một bao thuốc chỉ rẻ bèo khoảng 70 xu USD. Và bạn có thể đếm được số trường ĐH của họ, những gì họ sản xuất, những gì họ có thể tự hào, công nghệ ư? Họ còn chẳng thể nói được thứ ngôn ngữ nào ngoài ngôn ngữ của mình, vì sao họ khó có thể sử dụng Tiếng Anh thành thạo? Liệu đây có phải là do việc hút thuốc? Bạn hãy tự suy nghĩ nhé.

Trong bài nay tôi không động chạm đến vấn đề tôn giáo hay chủng tộc. Đó là vì sao người Do Thái khá kiêu ngạo, và vì sao họ luôn bị săn đuổi từ thời Paraoh cho đến Hitler. Đối với tôi đó là vấn đề về chính trị và sự tồn vong. Điểm cuối cùng trong bài này là liệu chúng ta có thể tạo ra những thế hệ giống như những người Do Thái? Câu trả lời có thể ở dạng khằng định đó là chúng ta cần thay đổi thói quen ăn uống hàng ngày, cách làm cha mẹ, và tôi đoán rằng chỉ trong 3 thế hệ, việc này có thể làm được. Điều này tôi có thể quan sát được từ đứa cháu của tôi. Chỉ mới 9 tuổi cậu đã viết được bài luận 5 trang về đề tài ‘Vì sao tôi thích cà chua?’. Cầu chúc cho chúng ta được sống yên bình và thành công trong việc tạo ra những thế hệ tương lai tài giỏi cho nhân loại dù bạn thuộc bất kỳ chủng tộc nào.

Bổ sung: Theo truyền thống người Do Thái, những học giả, nhà khoa học được khuyến khích kết hôn với con gái của những thương nhân vì theo họ, con cái sinh ra sẽ là sự kết hợp của cả giáo dục hàn lâm và giáo dục thực tế. Chính sự coi trọng thương nhân và kinh doanh cũng như học vấn đã đưa họ lên vị trí hàng đầu trên thế giới và khiến cả thế giới ngả mũ cúi đầu. (khác hẳn với văn hóa 'sỹ, nông, công, thương' của VN và Châu Á). Những chính sách của Hoa Kỳ trước đây và của Obama hiện tại cũng đều chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhà tài phiệt người Do Thái."

 

 

Chú thích:

 [1] http://shahidpages.wordpress.com/2009/03/31/why-jews-are-intelligent/

 

Syndicate content








mensa iq test | mensa test